Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất

Những lo lắng về khủng hoảng nợ châu Âu, sự hồi phục chậm chạp của Mỹ và khả năng hạ cánh cứng của kinh tế Trung Quốc, đã buộc nhà đầu tư toàn cầu phải đi tìm những thị trường mới, hãng tin CNBC cho hay.
Đối với những nhà đầu tư quốc tế, những nền kinh tế được xem là có triển vọng tăng trưởng dài hạn để thu hút được đầu tư nước ngoài phải hội đủ nhiều yếu tố khác nhau như nhân khẩu học, tài nguyên thiên nhiên hay vị trí địa lý...
Dưới đây là danh sách 10 quốc gia có triển vọng tăng trưởng dài hạn tốt nhất, trong đó Việt Nam được xếp thứ 7 trên cả Trung Quốc. Bảng xếp hạng này được đưa ra trên cơ sở báo cáo "Thế giới năm 2050" của ngân hàng HSBC.
"Thế giới năm 2050" là báo cáo nhận định về triển vọng kinh tế trong 40 năm tới. Một số quốc gia trong top 10 này hiện đã nổi tiếng là những cường quốc kinh tế, trong khi một số đang tăng trưởng hoặc dự báo sẽ biến chuyển mạnh.
10. Algeria
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5%
GDP năm 2010: 76 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 538 tỷ USD
Algeria, nước có dự trữ dầu lớn thứ ba ở châu Phi, là quốc gia giàu có nhất ở lục địa đen. Nền kinh tế này được đánh giá là có khả năng sẽ tăng trưởng hơn nữa trong các thập kỷ tới. Trữ lượng dầu lên tới 12 tỷ thùng có sức hấp dẫn rất lớn đối với các công ty năng lượng nước ngoài. Các sản phẩm dầu khí, xương sống của nền kinh tế này, hiện chiếm 95% kim ngạch xuất khẩu của Algeria. Bên cạnh những mặt tích cực, Algeria cũng đang đối mặt với số người thất nghiệp dưới độ tuổi 35 khá cao. Khoảng 20% số người trong độ tuổi từ 16-24 ở quốc gia này bị thất nghiệp. Ngoài ra, Algeria cũng là một trong những mắt xích của phong trào nổi dậy "Mùa xuân Arab" năm ngoái.
9. Trung Quốc
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5,1%
GDP năm 2010: 3.511 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 25.334 tỷ USD
Không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc có mặt trong danh sách này. Quốc gia đông dân nhất thế giới hiện vẫn đang là cỗ máy tăng trưởng của thế giới, nằm trong số những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong suốt 4 thập niên qua. Theo các dự báo gần đây, quy mô kinh tế của Trung Quốc tới năm 2050 sẽ lớn nhất thế giới, vượt qua cả Mỹ. Trung Quốc là một thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài ở hầu hết các lĩnh vực. Năm 2011, đất nước này đã nhận được 116 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhiều tập đoàn quốc tế hàng đầu đã đổ xô vào thị trường này coi đây như là mảnh đất kiếm tiền mầu mỡ trong bối cảnh kinh tế ở phần còn lại của thế giới khá bấp bênh.
8. Ai Cập
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5,1%
GDP năm 2010: 160 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 1.165 tỷ USD
Ai Cập, nền kinh tế lớn thứ hai trong thế giới Arab và cũng là quốc gia đông dân nhất ở khu vực này, được xem là một điểm nối các tuyến đường giao thương giữa châu Phi, châu Âu và châu Á. Kinh tế của Ai Cập chủ yếu dựa vào nông nghiệp, xuất khẩu dầu mỏ cũng như du lịch. Quốc gia này là "quê nhà" của kim tự tháp, một trong những điểm hấp dẫn nhất du khách quốc tế, do vậy có tới 10% lực lượng lao động của Ai Cập làm trong lĩnh vực du lịch. Mặc dù có nhiều lợi thế về kinh tế, song về chính trị của quốc gia dầu lửa này hiện được xem là khá bất ổn. Những cuộc biểu tình chống chính phủ đã xuất hiện và mức độ căng thẳng cùng tác động của nó tới kinh tế thật khó có thể đo lường.
7. Việt Nam
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5,2%
GDP năm 2010: 59 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 451 tỷ USD
Với tư cách là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng có tính trụ cột của nền kinh tế Việt Nam. Những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều bước tiến lớn trong việc mở cửa và đa dạng hóa nền kinh tế, từ đó đã giúp bộ mặt quốc gia đổi thay nhanh chóng. Đầu tư nước ngoài đã không ngừng tăng lên kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới vào năm 2007. Nền tảng sản xuất chi phí thấp của Việt Nam là một trong những điểm hấp dẫn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp may mặc và công nghệ đang muốn tìm thị trường giá rẻ hơn ngoài Trung Quốc.
6. Malaysia
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5,3%
GDP năm 2010: 146 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 1.160 tỷ USD
Malaysia là nền kinh tế lớn thứ ba ở khu vực Đông Nam Á đồng thời cũng là một trong những điểm đầu tư tốt nhất khu vực. Kể từ khi giành được độc lập vào năm 1957 cho tới năm 2005, mức tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm của Malaysia là 6,5%. Quốc gia này chủ yếu nương tựa vào việc xuất khẩu khoáng sản và nông sản, như thiếc và cao su. Hiện Malaysia đang trên bước đường đa dạng hóa nền kinh tế, yếu tố then chốt để giúp nước này hồi phục sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 2007 một cách nhanh hơn. Malaysia hiện nằm trong số các nước xuất khẩu thiết bị bán dẫn, hàng điện tử, tấm năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới, và là một trung tâm toàn cầu của các ngân hàng Hồi giáo.
5. Bangladesh
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5,5%
GDP năm 2010: 78 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 673 tỷ USD
Bangladesh là nước nghèo nhất trong danh sách này, với khoảng 30% dân số sống dưới mức nghèo khổ theo tiêu chuẩn của thế giới. Khoảng 45 triệu người dân ở Bangladesh sống dưới 1,25 USD mỗi ngày. Tuy nhiên, tình hình này sẽ thay đổi trong 40 năm nữa, với GDP bình quân đầu người sẽ tăng gấp 6 lần vào năm 2050, theo đánh giá của ngân hàng HSBC. Một trong những tài sản lớn nhất của quốc gia này là lực lượng lao động giá rẻ đang tăng lên, yếu tố rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền vào khu vực sản xuất của Bangladesh. Ngành sản xuất quần áo may sẵn hiện được xem là một phần quan trọng của kinh tế Bangladesh, với 3,5 triệu công nhân và đóng góp 75% vào kim ngạch xuất khẩu.
4. Ấn Độ
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5,5%
GDP năm 2010: 960 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 8.165 tỷ USD
Ấn Độ, cường quốc ở khu vực Nam Á, được dự báo sẽ vượt lên thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới vào năm 2050 thay chân Nhật Bản. Khác với Trung Quốc, tăng trưởng của Ấn Độ mới vọt lên kể từ những năm 1990, sau khi chính phủ nước này có những động thái khích lệ nền kinh tế phát triển và hấp dẫn đầu tư nước ngoài vào mạnh hơn. Những biện pháp cải cách kinh tế cùng với sự hấp dẫn về dân số đã giúp Ấn Độ nhanh chóng vượt lên, trở thành một trong những "chiến sỹ đi đầu" ở châu Á. Lực lượng dân số trẻ và đang tăng mạnh của Ấn Độ đã giúp mở rộng hơn lực lượng lao động cũng như thị trường tiêu dùng. Đây là yếu tố quan trọng để đầu tư dài hạn.
3. Peru
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 5,5%
GDP năm 2010: 85 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 735 tỷ USD
Được xem là ngôi sao đang lên ở Nam Mỹ, Peru đã có quá trình tăng trưởng kinh tế khá dài, với mức trung bình 7% trong giai đoạn từ 2003 tới 2010. Mức tăng trưởng dự kiến còn mạnh hơn trong những thập niên tới, đưa quốc gia này vượt lên vị trí thứ 26 thế giới vào năm 2050, theo báo cáo của HSBC. Một trong những lý do chính giúp kinh tế Peru hồi phục mạnh sau 20 năm xung đột vũ trang, là đầu tư tư nhân. Chính phủ Peru đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này, khuyến khích phân quyền và sự minh bạch hơn nữa. Peru cũng rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khai khoáng. Hiện đây là nước sản xuất đồng và bạc lớn thứ hai thế giới. Các lĩnh vực tài nguyên hiện thu hút được 18 tỷ USD đầu tư.
2. Ukraine
VN vào top 10 đầu tư dài hạn tốt nhất, Thị trường - Tiêu dùng, dau tu, kinh te, tang truong, GDP, xuat khau, bieu tinh, nha dau tu, bao
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 6%
GDP năm 2010: 45 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 462 tỷ USD
Kinh tế của Ukraine được dự báo sẽ tăng trưởng gấp 10 lần trong vòng 40 năm tới. Quốc gia này chủ yếu sống dựa vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có, với những mảnh đất nông nghiệp màu mỡ và các mỏ khoáng sản phong phú. Ukraine cũng sở hữu những mỏ quặng mangan lớn nhất thế giới. Với trữ lượng than đá và quặng sắt cực lớn, Ukraine còn là một trong những nhà chế xuất lớn nhất các sản phẩm luyện kim cho khu vực Đông Âu. Nhờ có những lợi thế như vậy, tăng trưởng GDP trung bình hàng năm của quốc gia này trong giai đoạn 2001 - 2008 ở mức 7,5%. Tuy nhiên, vài năm gần đây, Ukraine chịu tác động lớn từ suy thoái kinh tế toàn cầu, khiến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm hơn một nửa.
1. Philippines
Tăng trưởng hàng năm ước tính: 7%
GDP năm 2010: 112 tỷ USD (theo tỷ giá USD năm 2000)
GDP năm 2050 ước tính: 1.688 tỷ USD
Philippines là một trong những nước có nhịp độ tăng trưởng dân số nhanh nhất ở châu Á. Dân số ở quốc gia này dự kiến sẽ còn tăng gần 70% trong vòng 40 năm tới và với các yếu tố có lợi khác, sẽ đưa Philippines trở thành quốc gia lớn thứ 16 thế giới vào năm 2050, theo đánh giá của HSBC, nhảy 27 bậc từ vị trí xếp hạng thứ 43 hiện nay. Philippines là một trong những nước xuất khẩu lao động lớn nhất thế giới, với hơn 9 triệu người làm việc ở nước ngoài. Năm 2010, Philippines đã thu được gần 19 tỷ USD từ việc xuất khẩu lao động.

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

3 cách kiếm tiền từ TTCK

David Jensen, chuyên gia Tài chính chứng khoán
Nếu biết cách, nhà đầu tư vẫn có thể tìm kiếm được lợi nhuận từ TTCK, dù thị trường có tốt hay xấu.
Đây là nhận định của ông David Jensen, Chuyên gia tài chính - chứng khoán tại Hội thảo Super Investors Day 2012 do Vinabull phối hợp với Le Bros, Info TV tổ chức (16/2/2012).
Theo ông David Jensen, muốn kiếm lời từ TTCK bất kể điều kiện thị trường tốt hay xấu, có 3 điều cần thực hiện.
1-Không để mất tiền: Đây là nguyên tắc khó làm nhưng cần tuân thủ. Muốn thế, nhà đầu tư cần phân biệt đầu tư với đầu cơ và đừng nên đầu cơ. Nghĩa là nhà đầu tư không được để mình rơi vào rủi ro cao và cần tìm mọi cách để bảo toàn vốn tham gia.
Có nhiều cách để nhà đầu tư giảm rủi ro, bảo toàn được vốn. Trong đó, quan trọng là mua bán cân nhắc, có tìm hiểu kỹ càng về doanh nghiệp và nên chủ trương nắm giữ cổ phiếu lâu dài.
2-Giảm chi phí giao dịch: Để kiếm lời từ TTCK, giảm chi phí là cách cần nghĩ đến. Nhà đầu tư có thể giảm chi phí giao dịch bằng cách đừng giao dịch thường xuyên và đừng dùng ký quỹ. Vì ký quỹ là dùng vốn đánh cược. Nếu thị trường xuống, nhà đầu tư không thể chủ động về giá bán. Ngoài ra, ký quỹ đòi hỏi khoản đầu tư phải tăng ít nhất 25%/năm mới hòa vốn.
Để giảm chi phí và tránh rủi ro, đa dạng hóa danh mục đầu tư là cách hữu hiệu. Nếu nhà đầu tư không có thời gian tìm hiểu về cổ phiếu, hãy mua chứng chỉ quỹ, hoặc đầu tư theo chỉ số
3-Đầu tư có kế hoạch: Muốn kiếm lời từ TTCK, hãy đầu tư có kế hoạch, tức hãy viết ra kế hoạch, đừng nghĩ trong đầu. Thực tế, việc đầu tư có kế hoạch giúp nhà đầu tư kiểm soát được tình hình, tránh cảm tính. Nhưng một kế hoạch đầu tư cần phải chi tiết, bao quát.
Cụ thể, nhà đầu tư cần vạch kế hoạch trên cơ sở hiểu rõ về doanh nghiệp, như biết được mức độ và định hướng tăng trưởng của doanh nghiệp, biết rõ phong cách lãnh đao… Lưu ý những thông tin này không cần quá chuyên môn. Chỉ cần thông tin có thể hỗ trợ nhà đầu tư ra quyết định là ổn. Ngoài ra, một kế hoạch đầu tư phải chỉ ra được cơ sở lựa chọn đầu tư; Chiến lược chốt lời, Kế hoạch điều chỉnh mục tiêu ra sao ...
Theo Ngọc Thủy
ĐTCK

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

Việt Nam: Thị trường sơ khai tiềm năng nhất TG

Với những gì mà Việt Nam đã đạt được, các chuyên gia phân tích cho rằng Việt Nam xứng đáng với vị trí số một trong Top các danh sách các quốc gia sắp nổi tiềm năng nhất thế giới.

>> Sự thật địa ốc giảm giá “sốc”
>> Vụ Shiseido Việt Nam: Câu chuyện CocaCola lặp lại?

Thực tế cho thấy trong những năm qua, do những cải cách về chính sách đầu tư mà môi trường đầu tư kinh doanh trở nên khá thuận lợi và được đánh giá khá cao. Các nhà đầu tư hoàn toàn có thể lạc quan về những cơ hội đầu tư mà quốc gia nhỏ bé này mang lại.Mới đây, hãng tin hàng đầu thế giới công bố danh sách top các thị trường sơ khai (frontier market) và thị trường mới nổi (emerging market) hấp dẫn nhất thế giới. Bảng xếp hạng này dựa trên nhiều số liệu phân tích và dự đoán từ nhiều tổ chức đáng tin cậy trong đó quỹ tiền tệ quốc tế, ngân hàng thế giới...
Theo Bloomberg, Việt Nam nằm trong top danh sách các thị trường sơ khai tiềm năng nhất đối với các nhà đầu tư quốc tế trong thời gian tới.
Còn Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, vẫn là thị trường mới nổi hấp dẫn và tiềm năng nhất thế giới mặc dù IMF dự báo nền tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại trong 5 năm tới. Theo sau Trung Quốc các nước như Thái Lan, Chile, Malaysia... Ấn Độ bị tụt hạng thê thảm do tỷ lệ lạm phát cao và những chính sách mở cửa thị trường thiếu quyết đoán trong năm vừa qua.
Việt Nam được các nhà phân tích đánh giá rất cao về mức độ tăng trưởng kinh tế. Trong thời buổi kinh tế toàn cầu trở nên hết khó khăn thì tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam luôn ở mức trung bình 7,2% kể từ năm 2000. Đó là một dấu hiệu tốt trong việc thu hút các nhà đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên cũng phải khẳng định Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn lớn. Một trong số đó là vấn đề lạm phát. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam luôn ở mức đáng báo động 2 con số.
Năm 2010, tỷ lệ lạm phát là 11,75%, năm 2011 là 18,58%. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 23% năm 2011- mức vào nhất khu vực châu Á. Bên cạnh đó, thị trường cổ phiếu luôn biến động và hoạt động kém hiệu quả do tính chất sơ khai và non yếu của thị trường. Chỉ số VN Index giảm 27& năm 2011.
Chất lượng quản lý vĩ mô kém hiệu quả cộng với tình trạng nợ công ngày càng gia tăng khiến cho những khó khăn trên trở nên khó giải quyết và khống chế một cách triệt để. Mặc dù vậy Việt Nam đang trong quá trình phát triển đi đôi với việc khác phục những điểm yếu của nền kinh tế mở cửa để hoàn thiện hơn trong mắt nhà đầu tư quốc tế.
Tuy nhiên, với những gì mà Việt Nam đã đạt được, các chuyên gia phân tích cho rằng Việt Nam xứng đáng với vị trí số một trong Top các danh sách các quốc gia sắp nổi tiềm năng nhất thế giới. Thực tế cho thấy trong những năm qua, do những cải cách về chính sách đầu tư mà môi trường đầu tư kinh doanh trở nên khá thuận lợi và được đánh giá khá cao. Các nhà đầu tư hoàn toàn có thể lạc quan về những cơ hội đầu tư mà quốc gia nhỏ bé này mang lại.
Dưới đây là top 10 thị trường sơ khai tiềm năng nhất trong danh sách của Bloomberg:
1. Việt Nam

Điểm hấp dẫn: 71,4
Quá trình mở rộng kinh tế được thực hiện một cách khá hiệu quả và nhanh chóng đã đưa Việt Nam lên vị trí dẫn đầu trong danh sách. Tuy nhiên tại quốc gia này, tình hình lạm phát cũng trở thành một vấn đề nan giải. Bên cạnh đó là tình trạng nợ công đang được xem là lớn nhất trong hàng ngũ các quốc gia sắp nổi. Sức ổn định của tiền tệ cũng như giá cổ phiếu cũng cần phải được cải thiện.
2. Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

Điểm hấp dẫn: 66,9
Tỷ lệ tăng trưởngkinh tế khá thấp tại UAE nhưng tình hình lạm phát, nợ công hay chỉ số tài chính thì tương đối ổn định. Đây cũng là một nơi dễ làm ăn đối với các nhà đầu tư.
3. Bungaria

Điểm hấp dẫn: 61,4 -cũng xếp ở vị trí số 3.
Một quốc gia châu Âu khác cũng có tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt là Bulgaria. Theo dự báo thì quốc gia này sẽ tiếp tục thúc đẩy GDP và kiềm chế lạm phát ở mức vừa phải. bên cạnh đó thị trường cổ phiếu cũng khá rẻ. Tỷ giá hồi đoái thì biến động khá nhiều nhưng cũng phải khẳng định Bulgaria là một điểm đến khá tiềm năng cho các nhà đầu tư.
4. Romania

Điểm hấp dẫn: 61,4
Kinh tế của nước này tăng trưởng nhanh gấp đôi Cô- oét và thị trường chứng khoán thì khá thuận lợi. Tuy nhiên thị trường tiền tệ thì lại khá biến động. Bên cạnh đó, nợ chính phủ của quốc gia này cũng ở mức cao.
5. Kuwait

Điểm hấp dẫn: 60,2
Với một hệ thống tiền tệ tương đối ổn định và tỷ lệ nợ công thấp cộng với tình trạng lạm phát nằm trong tầm kiểm soát, quốc gia này lọt vào vị trí thứ 5. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế của nước này vẫn còn ở mức tương đối khiêm tốn.
6. Kazakhstan

Điểm hấp dẫn: 59,3
Quốc gia này được cho là thực hiện tốt nhất các dự án tăng trưởng GDP trong danh sách này. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận tỷ lệ lạm phát cao, thị trường cổ phiếu đắt đỏ, hệ thống tiền tệ có phần thiếu ổn đinh. Mặc dù vậy đây cũng là nước dễ kinh doanh.
7. Qatar

Điểm hấp dẫn: 58,5
Tiền tệ không phải là một mối lo tại quốc gia này. Nhưng tăng trưởng GDP lại khá ảm đạm- tốc độ thấp nhất danh sách.Về lạm phát và nợ công cũng như giá cổ phiếu thì ở mức độ trung bình.
8. Serbia

Điểm hấp dẫn: 58,2
Serbia là nước có tốc tộ tăng trưởng tinh tế nhanh nhất trong khu vực kinh tế sắp nổi của châu Âu với thị trường giá cổ phiếu tương đối ổn. Nợ công và sự bất ổn của thị trường tiền tệ đã khiến cho nước này bị xếp vào vị trí tương đối thấp trong bảng xếp hạng. Kinh doanh tại nước này cũng khá khó khăn.
9. Bahrain

Điểm hấp dẫn: 56,2
Là nơi diễn ra công cuộc đổi mới tương đối tích cực, Ba- ren là quốc gia có tỷ lệ lạm phát   thấp, tỷ giá hối đoái ít biến động và môi trường kinh doanh tương đối tốt.
Tuy nhiên giá cổ phiếu thì lại đắt đỏ và nợ công thì đang trong xu hướng tăng.
10. Tunisia

Điểm hấp dẫn: 56,1
Theo hãng Bloomberg thì nước này có môi trường kinh doanh khá thuận lợi. ( Họ có quan hệ hòa hảo với liên minh châu Âu, Ả Rập và liên minh các quốc gia châu Phi). Dự báo GDP sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong khoảng bốn năm tới.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Bức ghép đầu tiên của bức tranh Vnindex 2012 đã hoàn thành

Bức ghép đầu tiên của bức tranh Vnindex 2012 đã hoàn thành


I. Chia sẻ và tổng kết
Vậy là đã hơn 3 tháng kể từ lúc viết blog về TTCK Việt Nam và thị trường vàng, đã đưa ra được những nhận định chính xác bám sát diễn biến đầy biến động của thị trường và những người bạn đồng hành theo blog chắc cũng đã thu được những hiệu quả nhất định. Rất cám ơn các bác đã quan tâm tới những bài viết của tôi, 1 số bác đã add nick yahoo và skype của tôi ( 1 nick nữ đã định bán PVX và tôi khuyên giữ lại nên đã ăn chọn sóng vừa rồi, 1 nick đã ăn đủ con sóng vàng ...)  tuy nhiên cũng mong các bác thông cảm là tôi không online nhiều và chủ yếu online về buổi đêm nên các bác có ý kiến , thắc mắc gì thì xin PM hoặc post tại các topic của tôi tại f319.

Dự đoán chính xác con sóng trước Tết : http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/2011/12/lich-su-2008-lap-lai-muc-ngay-e-on-con.html

Ăn chọn con sóng vàng từ 1550 lên 1600 sau 30-12-2011 : http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/2012/01/nhan-inh-ttck-vn-va-gold-au-nam-2012.html

Bám sát giá vàng lên 1635 usd/ounce http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/2012/01/vang-vuot-1610-xac-suat-quay-lai-1630.html

Ăn con sóng vàng từ 1650 lên 1700 http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/2012/01/vang-tien-nhanh-toi-moc-1700.html

So sánh Vnindex và SEt của Thailand http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/2012/01/vnindex-2008-2011-vs-set-thailand-1997.html

Dự đoán giá vàng sau tết nguyên đán: chạm 1760 điều chỉnh về bolinger giữa :
http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/2012/01/dien-bien-cua-vang-sau-tet-nguyen-vang.html

Dự đoán chính xác biến động TTCK Việt Nam tuần vừa qua :
http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/2012/02/vai-tin-hieu-thi-truong-vang-vnindex-e.html

xin chia sẻ là vàng chủ yếu tôi theo h4 và d1 để trade , dùng h1  để chọn điểm vào do không thể bám sát thị trường quá liên tục như nhiều bác dùng m30 m15 m5 được.

II. 1 bức tranh ?


Như tôi đã viết trong bài viết so sánh Vnindex và Set của Thailand thì Vnindex đã rơi vào vùng 6. Nếu các bạn tinh ý có thể thấy vùng này có 1 cú đánh lên đây là cũng là 1 trong những cơ sở để tôi dự đoán cơn sóng vừa rồi :)
Và 1 lần nữa chúng ta lại thấy sự giống nhau của Vnindex và Set. nếu chia nhỏ các giai đoạn ra thì có thể thấy Vnindex đang ở phần đầu của vùng F.Cú đánh vừa rồi đã chạm đường đỏ trên đồ thị và diễn biến rất cao là bắt đầu suy giảm. Nếu coi  coi vùng F là đáy dài hạn thì thị trường VN đã có vùng đáy dài hạn, đặc biệt ở 1 số CP cơ bản tốt....tuy nhiên có thể thấy vùng đáy này dài và có nhiều nhịp lên xuống rất nguy hiểm cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ đánh mất mình ở đây.
( P/s ở điểm F tín hiệu về tỉ giá là ổn định, các DN sẽ báo cáo lỗ nhiều ở giai đoạn này )
Nếu dự theo vùng F của Set thì khả năng cao TTCK VN sẽ suy giảm đến tầm cuối tháng 3 rồi tăng trở lại sau đó lại có 1 đợt giảm tiếp.... Điều này khá trùng hợp với các thông tin về các quy định sẽ được thực thi vào ngày 31/3/2012...
Đồ thị Vnindex cũng ủng hộ tín hiệu thị trường đã vào vùng quá mua và phải điều chỉnh về bolinger dưới.Kết hợp timeline có thể thấy quá trình suy giảm này phải diễn ra ít là 2 tuần.
theo http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/

Elliott Wave Update ~ 9 February 2012 [Update 10:15PM]

Thursday, February 9, 2012


Elliott Wave Update ~ 9 February 2012 [Update 10:15PM]

Update 10:15PM:  Here is my stab at the squiggle count using the Wilshire. Top projects over 100 points shy of the 2011 high. We'll see. This chart figures a gap down tomorrow perhaps.
Update 8:25PM: The GDOW is a favorite chart of mine capturing global sentiment very nicely in one neat index.
Has not even made a 62% retrace back to 2011 highs and sports a very nice EW pattern throughout.  Why would a waver like me be bullish when you see a chart like this?  GDOW has resistance coming up at about the 2000 level. The United States certainly will not "decouple", no way in hell not with our debt loads. No indeed. The world is lock-stepped in this thing together.  Credit bubbles are in every sovereign nation. 
Prechter always said governments are the last to a trade and the last big trade was debt - ala The Great Credit Bubble. And governments of all stripes are taking on credit like there is no tomorrow. Well there is a tomorrow. And it will end badly.
ORIGINAL POST
There is no doubt that DOW 13,000 and Nasdaq Composite 3000 are enticing the bulls, and if reached, could certainly stir the public attention. I guess I expect them both to be reached. Not sure if the Wilshire makes a new high in that case or not. 

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

TTCK: Có hay không bulltrap trong thời điểm này?

Tại sao thị trường tăng? Câu trả lời rất đơn giản, thị trường tăng vì “có người” muốn nó tăng, và tăng là để bán được nhiều cổ phiếu ở mức giá cao hơn.


Thực chất thị trường chứng khoán không tự nhiên tăng hoặc giảm, mà luôn có tác động của những luồng tiền lớn và chuyên nghiệp. Việc thị trường tăng tuần qua đương nhiên có tác động của những nhóm đầu cơ này.
Khi một xu hướng lên bắt đầu, giống như đàn cừu, hầu hết các nhà đầu tư sẽ có khuynh hướng mua vào theo. Hành động này thông thường liên quan đến “bản năng bầy đàn” (hay tâm lý đám đông).


Thông thường, chúng ta thường hành động theo việc mà cho chúng ta cho là đúng đắn, đồng thời rất độc lập và tỉnh táo khi đưa ra quyết định. Tuy vậy, khi đứng trước nguy hiểm hoặc cơ hội, hầu hết mọi người đều có phản ứng như nhau và có thể đoán trước được. Đây chính là kiến thức về tâm lý đám đông và chính điều này có thể giúp các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp lựa chọn cách thức đầu tư để có lợi nhuận lớn nhất. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp “chính xác đến từng chi tiết” là những “thú săn mồi” và những nhà giao dịch lớn mà ít người biết đến tượng trưng cho biểu tượng "cỗ máy nghiền thịt cừu".


Sau khi thị trường đã tăng một cách đáng kể, ‘tâm lý bầy đàn’ sẽ thấy rất bực bội vì bỏ lỡ cơ hội tăng giá và sẽ vội vã mua vào, thông thường là khi có tin tốt. Việc mua này có bao gồm cả những người đã mua rồi và muốn mua thêm. Tại điểm này, bạn phải tự hỏi mình, "Có phải các tổ chức chuyên nghiệp đang bán cho những người mua không?”, nếu câu trẻ lời là “Có” thì đây là tín hiệu quan trọng cho sự giảm giá trở lại.


Những nhà đầu cơ chuyên nghiệp tách biệt họ ra khỏi “Bầy đàn” và có khuynh hướng trở thành “thú săn mồi” hơn là trở thành nạn nhân, họ hiểu và nhận ra các nguyên tắc chi phối thị trường và từ chối bị đi sai đường bởi tin tức, mánh khóe, lời khuyên…. Khi “Bầy đàn” đang mua vào và tin tức tốt được đưa ra, họ sẽ tìm kiếm cơ hội bán.


Quay trở lại thị trường hiện nay, trong đợt tăng giá trước và sau tết âm lịch vừa qua, cả 2 chỉ số VnIndex và HNX Index đã tăng khoảng 20% so với đáy và đây là một mức tăng khá tốt trong bối cảnh luồng tiền rất hạn chế, vĩ mô, vi mô đều không mấy sáng sủa. Do vậy khi tham gia vào lúc thị trường đã tăng khá nhiều rồi thì mức độ an toàn không còn cao như trước đây, mặt khác cả 2 sàn đều tăng rất nhanh và mạnh dẫn đến tiềm ẩn rủi ro khi điều chỉnh giảm giá sẽ rất cao.


Bên cạnh đó khi thấy thị trường tăng trong bối cảnh vĩ mô, vi mô yếu, ta cần đặt ngay ra câu hỏi: Tại sao thị trường tăng?, tăng để làm gì? Và câu trả lời rất đơn giản, thị trường tăng vì “có người” muốn nó tăng, và tăng là để bán được nhiều cổ phiếu ở mức giá cao hơn. Và tại sao họ muốn bán?, đơn giản vì họ thấy 3 tháng đến 6 tháng nữa thị trường có thể giảm sâu hơn mức đáy gần nhất trước đợt đầu cơ giá tăng ngắn hạn này.


Để nhìn nhận đâu là đỉnh hay đáy trong trung hạn của thị trường, ta có thể nhìn nhận thông qua tính chất cơ bản: thị trường thường tạo đỉnh khi trong trạng thái giao định rất sôi động và tạo đáy trong trạng thái rất ảm đạm. Trạng thái sôi động hay ảm đạm ở đây bao gồm cả mức độ biến động giá cũng như khối lượng giao dịch.


Tại sàn Hà nội, sau một giai đoạn tăng giá với tốc độ vừa phải trước tết, ngay tuần sau tết, tốc độ tăng giá đã trở nên mạnh mẽ và đột biến. Bên cạnh đó cả hai sàn cũng đã có ngày giao dịch thứ 6 (3/2) với một khối lượng rất lớn, đạt mức kỷ lục trong vòng hơn hai tháng qua. Như vậy ta thấy thị trường hội tụ cả yếu tố về biên độ biến động giá mạnh và giao dịch rất nhiều và sôi động.


Những phân tích sơ bộ trên chỉ ra khả năng vùng đỉnh giá trong ngắn hạn có thể đã xuất hiện hoặc đã rất gần, do vậy việc tiếp tục mua vào nhiều khả năng sẽ có rủi ro lớn.


Theo Nguyễn Tuấn - Trưởng phòng đầu tư, Công ty Chứng khoán FLC
(Bài viết có trích dẫn từ cuốn sách: Master the Markets, by Tom Williams)
Diễn đàn doanh nghiệp
Website đăng tin: cafef

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Ăn rau không chú ơi?




Ăn rau không chú ơi?

Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

- Ăn hộ tôi mớ rau...!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. "Mình thương người thì ai thương mình" - cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

- Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt.
- Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.
Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

- Rau này bà bán bao nhiêu?
- Hai nghìn một mớ - Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.

- Sao chú mua nhiều thế?
- Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ...

-Nghỉ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những mã CK nóng trên thị trường.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.

Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:
- Bà bán rau chết rồi.
- Bà cụ hay đi qua đây hả chị? - chị bán nước khẽ hỏi.
- Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác.
- Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.

Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia. Gã không ngờ...!

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Dow Jones và S&P 500 có tháng 1 tốt nhất thế kỷ 21

(Vietstock) – Dù trải qua phiên giao dịch khá bấp bênh trong ngày thứ Ba nhưng Dow Jones và S&P 500 vẫn có tháng 1 tốt nhất kể từ năm 1997 với mức tăng lần lượt là 3.4% và 4.4%. Nasdaq cũng có tháng 1 khởi sắc nhất từ năm 2011 với mức nhảy vọt 8%.

Thị trường đóng cửa trái chiều trong phiên giao dịch cuối tháng do số liệu nhà ở và sản xuất kém hơn kỳ vọng đã làm giảm niềm lạc quan về hiệp ước tài chính mới của châu Âu. Dù Dow Jones và S&P 500 mất điểm phiên thứ tư liên tiếp nhưng chứng khoán Mỹ vẫn có tháng tăng điểm mạnh nhất kể từ tháng 10/2011.
Ngay sau giờ mở cửa, S&P 500 phát đi một tín hiệu kỹ thuật lạc quan được gọi là “điểm vàng” (golden cross) khi đường trung bình 50 ngày vượt đường trung bình 200 ngày. Đây là tín hiệu cho thấy sự thay đổi xu hướng trong trung hạn và thường đồng nghĩa với việc chỉ số này sẽ tăng điểm thêm 6 tháng nữa.
Trong số 26 “điểm vàng” kể từ năm 1962, S&P 500 tăng bình quân 4.1% trong vòng 3 tháng tiếp theo và tăng diểm trong 73% thời gian. Theo Birinyi Associates, trong vòng 6 tháng tới S&P 500 tăng bình quân 6.6% và khởi sắc trong 81% khoảng thời gian này.
Nguồn: VietstockFinance
Kết thúc ngày giao dịch, chỉ số Dow Jones giảm 20.81 điểm (0.16%) xuống 12,632.91 điểm, chỉ số S&P 500 hạ 0.61 điểm (0.05%) xuống 1,312.40 điểm nhưng chỉ số Nasdaq Composite tăng 1.90 điểm (0.07%) lên 2,813.84 điểm.
S&P 500 tăng 4.4% trong tháng 1, đánh dấu tháng tăng mạnh nhất kể từ tháng 10/2011. Dow Jones tăng 3.4% trong tháng khởi sắc thứ tư liên tiếp và Nasdaq tiến 8%.
Khối lượng giao dịch thưa thớt trong phần lớn thời gian của phiên nhưng tăng vọt vào cuối ngày khi các công ty quản lý quỹ điều chỉnh danh mục vào cuối tháng. Theo đó, khoảng 7.07 tỷ cổ phiếu được chuyển nhượng trên ba sàn New York, American và Nasdaq; thấp hơn mức trung bình 200 ngày là 7.76 tỷ cổ phiếu.
Diễn biến của các chỉ số chứng khoán chính trên thế giới ngày 31/01: 
Nguồn: VietstockFinance
Phước Phạm (Theo Reuters, CNN Money)
 

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Tôi vẫn chọn chứng khoán


(Vietstock) - Khoảng thời gian nghỉ Tết giúp tôi có những giây phút nhìn lại việc đầu tư của mình trong năm Con Mèo và suy nghĩ định hướng đầu tư trong năm Con Rồng.

Làm sao để sử dụng đồng vốn có hiệu quả trong năm mới có lẽ không chỉ là câu hỏi của riêng mình tôi mà là bài toán chung của giới đầu tư.
Gửi ngân hàng ư? Cá nhân tôi không thích kênh này vì đồng vốn qua cổ máy ngân hàng thường được giao cho giới đầu cơ, gây nên tình trạng bong bóng khi giá hàng hóa liên tục bị thổi lên như những năm qua. Điển hình có thể kể đến là thị trường bất động sản mà cuối cùng xã hội phải gánh chịu tổn thất. Chưa kể qua cổ máy ngân hàng, vốn được rót vào xây dựng những công trình nhà hàng, khách sạn, khu du lịch hay giải trí xa hoa, đối lập với tình trạng khó khăn và quá tải của ngành y tế và giáo dục trên khắp đất nước.
Ngoài ra, tôi còn lo ngại về sự an toàn vốn của mình trong bối cảnh nợ xấu và khó khăn về thanh khoản của các ngân hàng. Trong lịch sử hơn 20 năm trước, tôi đã từng chứng kiến sự đổ vỡ của hàng loạt hợp tác xã tín dụng và nhiều ngân hàng thương mại nhỏ. So với ngày trước, hệ thống ngân hàng hiện nay có tài sản khổng lồ nhưng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản vẫn thấp hơn nhiều. Ngày ấy, các ngân hàng quốc doanh có tỷ lệ này lên hơn 50% trong khi hiện nay chỉ dưới 10% - xuất phát từ mô hình bao cấp mới chuyển sang kinh doanh nên vốn cho vay từ nguồn phát hành được chuyển thành vốn tự có.
Hơn nữa, thời gian trước chưa có luật Các Tổ chức Tín dụng nên khoản hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng khó khăn không bị bắt buộc phải ưu tiên thu hồi như hiện nay.
Mua nhà đất ư? Nếu chưa có chỗ ở, có lẽ tôi suy nghĩ sâu về điều này vì giá cả kiến trúc xây dựng quá rẻ. 20 năm trước, khi cất nhà tôi phải mua xi măng với giá bằng một nửa hiện nay trong khi các hàng hóa khác tăng gần 7-8 lần.
Tuy nhiên, giá đất thì lại bị thổi lên quá cao, bong bóng lớn, nên cũng chưa biết tình trạng đóng băng này sẽ kéo dài bao lâu.
Thôi, đành chờ dịp khác.
Đầu tư vàng ư? Tôi cũng không dám vì giá vàng hiện nay là giá được hình thành bởi những nhà đầu cơ, có thể lên nhanh nhưng cũng có thể xuống sâu. Gần 30 năm trước, khi quả bóng đầu cơ vàng xì hơi, giá vàng thế giới giảm sâu xuống mức chỉ còn 1/3 (từ 800 USD xuống 250 USD và giữ mức thấp này hơn 10 năm đến 2001).
Giảm bội chi ngân sách Mỹ là nguyên nhân làm giá vàng xuống thấp trong những năm 1980 và mục tiêu này đang được nước Mỹ đặt ra.
Giá vàng Việt Nam hiện nay cao hơn thế giới khoảng 2 triệu đồng mỗi lượng do lực mua của người dân đang cao hơn lực bán. Chỉ cần lực bán của người dân cao hơn lực mua như cách đây 1 năm thì giá vàng trong nước sẽ phải thấp hơn giá thế giới (do chi phí xuất khẩu). Và như thế, vàng sẽ giảm hơn 3 triệu đồng mỗi lượng dù giá vàng thế giới không đổi.
Suy đi ngẫm lại, cuối cùng, tôi vẫn sẽ đầu tư chứng khoán. Chưa bao giờ tôi thấy chứng khoán rẻ như hiện nay. Khá nhiều cổ phiếu đang có giá thị trường chỉ bằng 1/3 giá trị thực. Chưa kể nhiều doanh nghiệp không lỗ nhưng giá cổ phiếu chỉ khoảng 3 chấm; thậm chí dưới góc độ so sánh kinh tế, có những cổ phiếu có giá rẻ hơn nhiều, có khi chỉ bằng gần 1/7 giá trị thực.
Cơ hội này chưa rõ sẽ kéo dài bao lâu và có lặp lại lịch sử hay không? Tuy nhiên, vẫn có khá nhiều cổ phiếu tiềm ẩn rủi ro và nhà đầu tư cần thận trọng để nhận diện.
Nguyễn Đình Dũng (Vũng Tàu)
 

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Quản lý dòng tiền đầu tư: Phương pháp nào hiệu quả trong năm 2012?


(Vietstock) – Ngay cả khi lựa chọn đúng thời điểm ra vào thị trường, nếu như không quản trị dòng tiền đầu tư một cách hợp lý thì vẫn có thể bị thua lỗ.

Thắng trăm trận, thua một trận vẫn cháy túi!
Câu nói ”Một cổ phiếu tốt chưa chắc đã là một khoản đầu tư tốt” cho thấy việc lựa chọn thời điểm quan trọng như thế nào trong đầu tư.
Tuy nhiên, ngay cả khi lựa chọn đúng thời điểm ra vào thị trường, nếu như không quản trị dòng tiền đầu tư một cách hợp lý thì vẫn có thể bị thua lỗ.
Vì vậy mới có câu chuyện bi hài là có nhà đầu tư thắng liên tiếp nhiều phi vụ trong suốt giai đoạn 2009 – 2010, nhưng chỉ cần ”sẩy chân” vào khoảng 4 tháng cuối năm 2011 là mất trắng toàn bộ số lợi nhuận có được.
Điều này cũng góp phần giải thích tại sao một nhà đầu tư có tỷ lệ trading thành công 80% chưa chắc đã kiếm được nhiều lợi nhuận hơn một nhà đầu tư chỉ có tỷ lệ thành công 20%.
Vì vậy, bên cạnh việc nắm bắt xu thế thị trường, giới phân tích đầu tư cũng rất quan tâm đến việc quản trị dòng tiền nhằm tối đa hóa giá trị đầu tư và hạn chế rủi ro.
Phương pháp quản lý dòng tiền nào hiệu quả?
Thiết lập một chiến lược tổng thể phù hợp cho mọi giới đầu tư là không thể. Ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến phương pháp quản trị dòng tiền và trading được tin là sẽ có hiệu quả trong một giai đoạn biến động phức tạp và bất ngờ như năm 2012.
Chiến thuật 4 – 4 – 2 và các biến thể
Đây không phải là mô hình chiến thuật trong bóng đá mà là chiến thuật giải ngân từng phần trên thị trường chứng khoán.
Chiến thuật này đặc biệt phát huy hiệu quả trong những giai đoạn thị trường giá xuống mạnh, kéo dài và khó xác định đáy dài hạn.
Với chiến thuật 4 – 4 – 2, nhà đầu tư sẽ giải ngân khoảng 40% cho lần mua đầu tiên. Lần mua đầu tiên thường là dạng mua bắt đáy (bottom-fishing). Đây có thể coi là điểm mấu chốt của chiến thuật này, bởi vì nếu như bắt đáy lần đầu thất bại thì sẽ không có thêm việc giải ngân tiếp theo mà sẽ là hành động cắt lỗ.
Chiến thuật này sẽ giúp cho mức độ thua lỗ được hạn chế tối đa nếu như bắt đáy thất bại. Giả sử chúng ta bắt đáy thất bại 3 lần liên tiếp và mỗi lần thua lỗ khoảng 15% thì mức thua lỗ tính nhanh của cả 3 lần là 3x40%x15% = 18% danh mục. Chỉ cần một lần bắt đáy thành công tiếp theo và áp dụng chiến lược bình quân giá lên thì mức độ thua lỗ này có thể được bù đắp.
Điều này đặc biệt phát huy tác dụng trong những đợt suy giảm kéo dài và không xác định được đáy của thị trường như hiện nay. Tùy thuộc vào khả năng chấp nhận rủi ro của mỗi người mà có thể chuyển thành chiến thuật 4 – 3 – 3 hoặc 5 – 3 – 2.
Ngoài ra, cũng có thể chẻ nhỏ tỷ lệ ra trong mỗi giai đoạn giải ngân tuỳ thuộc vào diễn biến từng phiên trong giai đoạn.
Điểm rơi của chiến thuật Bình quân giá lên tuỳ thuộc vào dạng tín hiệu
Như trình bày ở trên, rõ ràng chúng ta thấy có 3 điểm rơi cần chú ý: điểm bắt đáy (bottom-fishing), điểm mua đuổi theo giá và điểm mua cuối cùng.
Đầu tiên là điểm bắt đáy (bottom-fishing) để giải ngân 40% vốn đầu tiên. Tín hiệu dùng để phát hiện ra điểm này khá đa dạng nhưng nhìn chung đều thuộc dạng tín hiệu cảnh báo (warning).
Có thể chia ra hai trường hợp.
Nếu giá đang ở trong trạng thái trung gian và không ở gần ngưỡng hỗ trợ mạnh nào về mặt kỹ thuật thì thông thường giới phân tích kỹ thuật sẽ dùng hiện tượng phân kỳ giá lên (bullish divergence) để bắt đáy.
Còn nếu giá sắp chạm vào vùng chống đỡ mạnh (vùng đáy cũ, trendline trung dài hạn...) thì chỉ cần đợi khi giá test vùng này để giải ngân.
Đối với điểm mua đuổi theo đà tăng của giá cho 30% - 40% còn lại, thông thường sẽ chờ đến khi có những breakpoint quan trọng giữa giá với nhóm MA ngắn hạn xuất hiện. Điều quan trọng là phải chờ đến khi những tín hiệu mua (buy signal) thực sự xuất hiện, chứ không nên mua trước, để phòng ngừa rủi ro.
Cuối cùng, nếu như hai lần giải ngân đầu tiên đã bắt đầu có lời và thị trường chưa có dấu hiệu tạo đỉnh thì việc giải ngân thêm 20% - 30% cuối cùng có vẻ khá dễ dàng.
Nói chung, sự thành bại chủ yếu được quyết định trong lần giải ngân đầu tiên đối với chiến lược bắt đáy và bình quân giá lên này.
Nguyễn Quang Minh, Phòng Nghiên cứu VIETSTOCK

Thị trường bất động sản Việt Nam – bao giờ tăng giá trở lại ?

I. Quá trình phát triển của bất động sạn nước ta :

            1. Giai đoạn tăng trưởng những năm 1991 đến cuối 1996 và suy giảm những năm 1997-1999. Từ năm 1991 Nhà nước ta quyết định áp dụng cơ chế thị trường Giá đất ở những vùng đô thị mới tăng cao. Có những nới tăng hơn 10 lần. Giao dịch tăng mạnh, Giai đoạn này được tiếp nối bởi chu kỳ suy giảm trong những năm 1997-1999. Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á; do nhà nước tăng cường kỷ cương quản lý đất đai...
2.Giai đoạn tăng trưởng những năm 2000-2004 và suy giảm những năm 2004-đầu năm 2006. Dưới tác động của việc phục hồi kinh tế thế giới; cùng với việc ban hành Nghị định 71, Nghị định 79, Nghị định về giảm thuế chước bạ và thuế thu nhập, thị trường bất động sản đi vào một chu kỳ tăng trưởng mạnh. Rất nhiều doanh nghiệp xây dựng đã trở thành những nhà đầu tư kinh doanh bất động sản hùng mạnh Cơn "sốt đất" này bị sự kiện ban hành Luật Đất đai năm 2003 cắt ngang, thị trường bất động sản chậm giao dịch.      
Từ năm 2004 trở đi, sự vận hành thị trường chứng khoán gắn với cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tăng độ "nóng" cho thị trường này. Từ đó, những người đầu tư chủ yếu vào thị trường bất động sản đã chuyển "sốt" sang thị trường chứng khoán. Sự nóng lên quá nhanh của đầu tư vào chứng khoán đã làm vỡ "bong bóng" chứng khoán vào đầu năm 2007, tạo luồng đầu tư trở lại thị trường bất động sản.
3.Giai đoạn tăng trưởng vào những năm 2007-đầu 2008 và suy giảm từ khoảng Quý II năm 2008 đến nay. Thị trường bất động sản cùng với thị trường chứng khoàn đã có sự bùng phát rất mạnh vào những năm 2006-2008. Giao dịch sôi động, giá bất động sản tăng lên rất cao. Địa bàn các dự án triển khai rất rộng lớn. Giai đoạn này chứng kiến sự gia nhập mạnh mẽ của thị trường khu vực miền Trung. Đặc biệt thị trường sản phẩm du lịch (resort) đã ra đời trong giai đoạn này. Không chỉ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mà cả Đà Nẵng, Nha Trang cũng trở nên sôi động trong phát triển thị trường bất động sản.
Tuy nhiên, giai đoạn từ đầu năm 2008 đến này có những diễn biến rất khác biệt cả về sản phẩm, cả về địa bàn và cả về chủ thể đầu tư. Năm 2008, nền kinh tế nước ta phải điều chỉnh ngay từ tháng 3/2008. Tín dụng từ hệ thống ngân hàng bị thu hẹp, nguồn đầu tư công bị xem xét, cắt giảm. Thị trường bất động sản lâm vào tình trạng khó khăn. Nhiều dự án, nhiều sản phẩm bị đình trệ. Cuối năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ và thị trường trong nước nói chung và thị trường bất động sản tiếp tục bị điều chỉnh giảm. Thực chất, thị trường đã không tăng trưởng kể từ đầu năm 2008. Tuy nhiên, đầu năm 2009, dưới tác động của kích cầu, một số dự án, một số sản phẩm bất động sản trên địa bàn Hà Nội đã được phục hồi và phát triển. Tuy nhiên, hầu hết những dự án khác, những sản phẩm khác, những địa bàn khác không được tác động do tính lan tỏa không tới. Sang năm 2010, diễn biến không có nhiều biểu hiện rõ rệt mà chỉ giữ ở mức độ ngang bằng năm 2009.
Năm 2011, dưới tác động của chính sách hạn chế tín dụng, cắt giảm đầu tư công nhằm kìm chế lạm phát, thị trường bất động sản thực sự suy giảm.

Rõ ràng về cơ bản thị trường BĐS Việt Nam không hề nằm ngoài quy luật phát triển của thị trường BĐS thế giới:

“ Thứ nhất, cấp độ sơ khởi: Đó là giai đoạn của tất cả mọi người đều có thể tạo lập được nhà của mình. Giai đoạn này chỉ cần có một mảnh đất là có thể hình thành nên một cái nhà và được coi là BĐS. Trong cấp độ này, các chính sách về đất đai, các chủ đất và các cơ quan quản lý đất đai đóng vai trò quyết định.
Thứ hai, cấp độ tập trung hoá
: Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng. Trong giai đoạn này, do hạn chế về đất đai, do hạn chế về năng lực xây dựng, không phải ai cũng có thể hình thành và phát triển một toà nhà, một BĐS lớn, một dự án BĐS. Trong cấp độ này, các chính sách về xây dựng và các doanh nghiệp, cơ quan quản lý xây dựng đóng vai trò quyết định.
Thứ ba, cấp độ tiền tệ hoá:
Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng. Lúc này, sự bùng nổ của các doanh nghiệp phát triển BĐS, do hạn chế về các điều kiện bán BĐS, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiền để phát triển BĐS cho tới khi bán ra được trên thị trường. Trong cấp độ này, các ngân hàng đóng vai trò quyết định trong việc tham gia vào dự án này hoặc dự án khác. Các chính sách ngân hàng, các ngân hàng và các cơ quan quản lý về ngân hàng đóng vai trò quyết định.
Thứ tư, cấp độ tài chính hoá:
Khi quy mô của thị trường BĐS tăng cao và thị trường phát triển mạnh, do những hạn chế về nguồn vốn dài hạn tài trợ cho thị trường BĐS, các ngân hàng hoặc không thể tiếp tục cho vay đối với BĐS hoặc sẽ đối mặt với các rủi ro. Lúc này, các ngân hàng phải tài chính hoá các khoản cho vay, các khoản thế chấp cũng như các khoản tài trợ cho thị trường nhằm huy động đa dạng hoá các nguồn vốn. Trong cấp độ, các thể chế tài chính, các chính sách tài chính, các tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý tài chính là những chủ thể có vai trò quyết định. “

II. Các đặc điểm của thị trường Bất Động Sản:

Trong mỗi cấp độ phát triển của thị trường BĐS, quá trình vận động của thị trường đều có chu kỳ dao động tương tự như nhiều thị trường khác. Chu kỳ dao động của thị trường BĐS gồm có 4 giai đoạn: phồn vinh (sôi động), suy thoái (có dấu hiệu chững lại), tiêu điều (đóng băng) và phục hồi (nóng dần lên có thể gây “sốt”). Chẳng hạn như thị trường BĐS nước Mỹ trong khoảng 1 thế kỷ (1870-1973) trải qua 6 chu kỳ dao động, bình quân mỗi chu kỳ khoảng 18 năm; thị trường BĐS nước Nhật từ năm 1956 đến nay trải qua 4 chu kỳ, mỗi chu kỳ khoảng 10 năm; thị trường BĐS Hồng Kông từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay đã có 8 chu kỳ dao động, chu kỳ ngắn hạn là từ 6-7 năm, dài là 9-10 năm, trung bình là 8-9 năm. Thị trường BĐS Trung Quốc tuy hình thành chưa lâu nhưng từ năm 1978 đến nay cũng đã có 4 chu kỳ dao động, trong đó đáng chú ý có chu kỳ cực ngắn (1992-1994), tăng trưởng “phi mã” trong 2 năm 1992- 1993 rồi suy sụp rất nhanh trong năm 1994.
Áp dụng vào thị trường Việt Nam chúng ta có thể thấy :

-          Giai đoạn từ năm 1991 đến 1999 : là giai đoạn sơ khai của thị trường BĐS Việt Nam. Tăng nóng từ 1991 đến 1993 sau văn kiện đại hội đảng VII, Suy giảm từ 1993 đến 1996 ( giá vẫn tăng nhưng chậm lại) sau khi ra luật đất đai năm 1993. Đóng băng từ 1997 đến 1999 và phục hồi dần vào cuối 1999 – đầu năm 2000 với việc năm 1998, Quốc hội thông qua Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai với nội dung chủ yếu: quy định đất ở được sử dụng không có thời hạn; mở thị trường bất động sản cho các dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở, hạ tầng khu công nghiệp và các dự án đổi đất lấy hạ tầng; các nhà đầu tư trong nước được áp dụng hình thức thuê đất của Nhà nước trả tiền một lần và quyền thuê đất đó được giao dịch trên thị trường bất động sản.

-           Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2006 : là giai đoạn tập trung hóa của TT BĐS Việt Nam. Thị trường phục hồi với việc quốc hồi sửa đội bổ sung luật đất đai và nhóm đầu cơ đón đầu việc, khung pháp luật của Việt Nam thừa nhận quyền sử dụng đất là một thành phần của thị trường bất động sản, quyền sử dụng đất là tài sản của người sử dụng đất và người sử dụng đất được thực hiện các giao dịch trên thị trường đối với quyền sử dụng đất vào năm 2003.Tăng nóng từ 2000-2003, suy giảm từ cuối 2003 đến 2004, đóng băng từ 2005- đầu 2006, phục hồi vào giữa 2006.
      Giai đoạn này tính đầu cơ của TT BĐS tăng cao,:
o        xuất hiện các tập đoàn kinh doanh bđs hùng mạnh
o        bắt đầu xuất hiện sự gắn kết rõ ràng giữa thị trường bđs và thị trường vốn
o        các nhóm đầu cơ bđs lộ diện rõ rệt
o        người dân bắt đầu ý thức việc chuyển đổi tư bản “ chết” trong bđs thành tư bản “ sống” ( hoạt động vay vốn, cầm cố…)

-          Giai đoạn từ năm 2007 đến này :là giai đoạn tiền tệ hóa bđs , thị trường tăng nóng từ năm 2006 đến giữa năm 2008, suy giảm thanh khoản từ 2009 đến 2010. Và đóng băng từ đầu cuối 2010 đến nay… Trong giai đoạn này sự tăng trưởng ở 1 số tt bđs cục bổ như Hà Nội, Đà nẵng thể hiển rõ những đặc trưng sau :
o        thể hiện rõ sự lũng đoạn của nhóm đầu cơ chính sách trong tt bđs ( Đón đầu quyết định mở rộng Hà nội, thổi đất Ba vì , Nhật tân , quốc lộ 32, An Khánh …..)
o        cấp độ tiền tệ hóa, tài chính hóa bđs theo vùng miền  được phân hóa : nơi nào có cấp độ tài chính hóa bđs càng cao thì tốc độ diễn biến sẽ nhanh , mạnh hơn, tính chất kinh tế thị trường thể hiện rõ rệt hơn.
o        Sự gắn kết chặt chẽ giữa thị trường bđs và sự phát triển của thị trường vốn.( Giai đoạn 2006- 2008 dư nợ cho vay phi sản xuất tăng vọt kéo theo tt bđs cũng tăng trưởng, khi có quy định về giảm tỷ lệ cho vay phi sx thì tt bđs cũng đổ đèo theo )
o        Hoạt động vay vốn, đòn bẩy tài chính trong tt bđs diễn ra phổ biến hơn
o        Giá nhà có sự gắn kết với lạm phát và giá vàng.

Tham khảo thêm quá trình tăng vốn của ngân hàng ACB:
30-06-1994 Vốn điều lệ tăng lên 70 tỷ đồng.
17-02-1996 Vốn điều lệ tăng lên 341 tỷ đồng.
28-02-2003 Vốn điều lệ tăng lên 424 tỷ đồng.
23-08-2005 ACB tăng vốn điều lệ lên 948,32 tỷ đồng.
14-02-2006 Tăng vốn điều lệ lên 1.100 tỷ đồng
25-05-2007 Tăng vốn điều lệ lên 2.530.tỷ đồng
12-12-2007  Tăng vốn điều lệ lên 2.630.tỷ đồng
Năm 2008 Vốn điều lệ đạt 6.355 tỷ đồng
Năm 2009 Vốn điều lệ đạt 7.814 tỷ đồng
Hiện tại  Vốn điều lệ đạt 9.376 tỷ đồng “
P/s : theo ý kiến cá nhân tôi thì Thị trường BĐS VN chưa thể tiến tới giai đoạn tài chính hóa bđs được cho nên giai đoạn 2007 đến nay mới chỉ là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiền tệ hóa bđs. Quá trình tiền tệ hóa bất động sản hoàn toàn có thể diễn ra trong 2-3 chu kì trước khi tiến tới giai đoạn tài chính hóa bđs.

Phân tích các giai đoạn trên có thể thấy TT BĐS Việt Nam có những đặc điểm sau:

1. Cân bằng cung-cầu BĐS chỉ xảy ra trong một thời điểm rất ngắn và mang tính tương đối

- cung-cầu BĐS luôn luôn có sự biến động và các dao động cung-cầu trên thị trường BĐS đã làm thay đổi trạng thái cân bằng cung-cầu,
sự mất cân bằng cung cầu này kèm theo việc thị trường bđs là thị trường không hoàn hảo nên giá BĐS luôn có sự tăng và giảm giá đột biến theo kiều : “cơn sốt nóng” hoặc “tình trạng đóng băng thanh khoản”

2. Thị trường BĐS mang tính vùng, tính khu vực sâu sắc và không tập trung

BĐS là một loại hàng hoá cố định và không thể di dời về mặt vị trí và nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tập quán, tâm lý, thị hiếu. Trong khi đó, tâm lý, tập quán, thị hiếu của mỗi vùng, mỗi địa phương lại khác nhau. Chính vì vậy, hoạt động của thị trường BĐS mang tính địa phương sâu sắc.

Mặt khác, thị trường BĐS mang tính không tập trung và trải rộng ở mọi vùng miền của đất nước. Sản phẩm hàng hoá BĐS có “dư thừa” ở vùng này cũng không thể đem bán ở vùng khác được. Bên cạnh đó, mỗi thị trường mang tính chất địa phương với quy mô và trình độ khác nhau do có sự phát triển không đều giữa các vùng, các miền, do điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội khác nhau dẫn đến quy mô và trình độ phát triển của thị trường BĐS khác nhau. Thị trường BĐS ở các đô thị có quy mô và trình độ phát triển kinh tế cao thì hoạt động sôi động hơn thị trường BĐS ở nông thôn, miền núi v.v..

3. Thị trường BĐS là hàng hóa có tính độc đáo, cá biệt và tương hỗ với xung quanh

 Một mảnh đất, một căn nhà, về mặt địa thế, gần như không thể lặp lại một cái thứ hai tương tự. Một căn hộ hướng nhìn xuống hồ với tầm nhìn đẹp sẽ cao giá hơn căn hộ cùng loại nhưng nhìn ra mặt đường. Trong cùng loại căn hộ nhìn ra hồ ấy, cũng hoàn toàn khác nhau, có căn thấy rõ được các tàn cây hay dãy núi phía xa bên kia hồ, nhưng căn kế bên thì không thể có cùng tầm nhìn như vậy… Dĩ nhiên, những “view” đẹp, độc đáo ấy đều tạo ra giá trị tăng thêm.

Giá trị của một miếng đất hay căn nhà bị ảnh hưởng rất nhiều từ những miếng đất hay căn nhà xung quanh. Một khu nhà đẹp nằm gần một mảnh đất sắp xây dựng nhà máy xem như… hỏng. Một cao ốc đẹp với nhà penthouse lộng lẫy nhưng nhìn xuống một khu ổ chuột lụp xụp thì cũng chẳng còn mấy ý nghĩa. Cho nên, những cái xung quanh một bất động sản nhiều lúc tạo ra giá trị cho nó lớn hơn bản thân nó được tạo ra.

4.Thị trường BĐS chịu sự chi phối của yếu tố pháp luật, chính sách :

BĐS là tài sản lớn của mỗi quốc gia, là hàng hoá đặc biệt, các giao dịch về BĐS tác động mạnh mẽ đến hầu hết các hoạt động kinh tế-xã hội. Do đó, các vấn đề về BĐS đều sự chi phối và điều chỉnh chặt chẽ của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật riêng về BĐS, đặc biệt là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai và nhà ở. Đặc điểm này đặc biệt đúng ở nước ta do thị trường đất đai cấp I (thị trường sơ cấp- giao đất và cho thuê đất) là chịu tác động nhất bởi các quyết định của Nhà nước.

5. Thị trường BĐS là một dạng thị trường không hoàn hảo (thông tin không đầy đủ, thiếu 1 số tổ chức của thị trường).

Đặc điểm này xuất phát từ những đặc trưng riêng của mỗi vùng, chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên cũng như truyền thống và tập quán, thị hiếu, tâm lý xã hội trong quá trình sử dụng BĐS, người mua và người bán thường thiếu thông tin liên quan đến những giao dịch trước.

BĐS có tính dị biệt, tin tức thị trường hạn chế, đất đai trên thị trường sơ cấp phụ thuộc vào quyết định của Nhà nước nên thị trường BĐS là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.Mặt khác, thị trường BĐS không hoàn hảo còn do tính chất không tái tạo được của đất, nên thị trường BĐS mang tính độc quyền, đầu cơ nhiều hơn các thị trường hàng hoá khác.

5. Thị trường BĐS có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính.
Động thái phát triển của thị trường này tác động tới nhiều loại thị trường trong nền kinh tế.

BĐS là tài sản đầu tư trên đất bao gồm cả giá trị đất đai sau khi đã được đầu tư. Mà đầu tư tạo lập BĐS thường sử dụng một lượng vốn lớn với thời gian hình thành BĐS cũng như thu hồi nguồn vốn dài. Khi BĐS tham gia lưu thông trên thị trường BĐS, các giá trị cũng như các quyền về BĐS được đem ra trao đổi, mua bán, kinh doanh v.v.. giải quyết vấn đề lưu thông tiền tệ, thu hồi vốn đầu tư và mang lại lợi nhuận cho các bên giao dịch. Điều này chứng tỏ thị trường BĐS là đầu ra quan trọng của thị trường vốn.

Ngược lại, thị trường BĐS hoạt động tốt là cơ sở để huy động được nguồn tài chính lớn cho phát triển kinh tế thông qua thế chấp và giải ngân (Theo thống kê, ở các nước phát triển lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng BĐS chiếm 80% trong tổng lượng vốn cho vay).

Ngoài ra, thị trường BĐS còn có quan hệ trực tiếp với thị trường xây dựng và qua đó mà bắc cầu tới các thị trường vật liệu xây dựng và đồ nội thất, thị trường lao động v.v.. dao động của thị trường này có ảnh hưởng lan toả tới sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân.

6. Thuộc tính tồn tại lâu dài

Hàng hoá gì cũng hư hỏng và có lúc hết “đát”, riêng bất động sản thì không. Việc sinh lãi của đất có thể thay đổi theo từng giai đoạn, nhưng bản thân đất đai thì tồn tại vĩnh viễn. Các công trình xây dựng trên nó, như nhà ở, cửa hàng…, nếu bảo trì tốt có thể sử dụng hàng trăm năm, thậm chí có căn nhà tồn tại vài thế kỷ (một dòng họ có thể đi qua vài ba đời nhưng “mặt hàng” này - tức căn nhà của họ - thì vẫn còn nguyên vẹn. Do đó, trừ nhà ở, còn các bất động sản sinh lợi (nhà cho thuê, cửa hàng…) thì gần như có thể tiếp tục sinh lợi vĩnh viễn (Không có một tư liệu hay công cụ sản xuất nào có thể sinh lợi lâu dài như vậy).

7. Thuộc tính kinh doanh tính toán đường dài

Khi quyết định đầu tư địa ốc cần có những cam kết dài hạn vì, dù rằng sự nhanh chóng đáp ứng nhu cầu cho cái lợi trước mắt cũng quan trọng, nhưng tính đường dài mới thật sự là bản chất của loại kinh doanh này. Chẳng hạn, nhanh chóng đầu tư vào một motel (khách sạn bên đường xa lộ) toạ lạc ngay trên một xa lộ có mật độ di chuyển cao là một quyết định tốt, nhưng cần phải biết rằng, năm năm nữa người ta có xây một con đường khác ngắn hơn và bỏ qua tuyến xa lộ này hay không?  Ngược lại, nếu tính xây chợ hay siêu thị, thì không phải xây nơi đông dân cư là hay (vì đất đai đắt, cạnh tranh cao) mà phải xây đón đầu ở khu vực kế cận còn hoang vắng, nhưng dự đoán là sẽ dần phát triển lan ra.Nhà đầu tư nào cứ cho rằng xu thế tăng giá sẽ tiếp tục mãi mãi sẽ có thể thất bại nặng nề. Thay vào đó, họ cần phân tích kỹ các kinh nghiệm thành bại của quá khứ và cố gắng đánh giá đúng những gì sẽ diễn ra trong tương lai.

8.Thuộc tính về đồng tiền lớn

Vốn rất lớn nếu bạn muốn đầu tư địa ốc. Với rất nhiều người, căn nhà là tài sản lớn nhất của mọi gia đình. Vì thế nên, người đầu tư nhà làm sao có vốn nhỏ mà làm được? Loại kinh doanh này bao giờ cũng đòi hỏi nhiều tiền hơn bất cứ vốn liếng tự có nào của nhà đầu tư. Với hai yếu tố large size và long-term này, người mua nhà hay đầu tư nhà bao giờ cũng cần phải vay tiền
 

III. Bài học từ thị trường BĐS Thái Lan và tương lai của TT BĐS Việt Nam

 Bài học từ Thái lan

Bắt đầu từ những năm 1985, khi Thái Lan thực thi chính sách nới lỏng về tài chính và cho phép người đầu tư nước ngoài tham gia vào đầu tư trong nước, nền kinh tế Thái Lan có những bước tăng trưởng nhảy vọt. Các ngân hàng mọc lên ở khắp nơi cũng như mọt lượng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào trong nước. Chỉ trong vòng 3 năm, đến năm 1995, Thái Lan đã tăng được gấp đôi lượng vốn đầu tư nước ngoài.


Tuy nhiên, lượng vốn đầu tư nước ngoài này chủ yếu lại rót vào lĩnh vực BĐS khi đó đang là một lĩnh vực đầu tư rất có lời do giá tăng vọt. Vốn đầu tư được đưa vào dưới 2 hình thức: vay nợ qua ngân hàng và huy động qua thị trường chứng khoán. Với sự trung gian của hệ thống các ngân hàng thương mại, chủ đầu tư vay vốn ngắn hạn (chủ yếu là 6 tháng) từ nước ngoài để tài trợ cho các dự án có thời gian từ 18 tháng đến 2 năm. Mặt khác, thông qua thị trường chứng khoán, vốn được đưa vào các dự án thông qua các quỹ đầu tư BĐS.



Vậy, có gì sai lầm khi một lượng vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnh vực này? Theo nhận định của các chuyên gia nước ngoài, hàng hóa trong lĩnh vực BĐS chỉ được trao đổi và đáp ứng nhu cầu trong nước mà không thể xuất khẩu cũng như mang lại các nguồn thu nhập về ngoại tệ để cân bằng cán cân thanh toán.



Thêm vào đó, tình hình đầu tư vào BĐS tràn lan bởi việc vay vốn từ ngân hàng và huy động qua thị trường chứng khoán quá dễ dàng. Trong cơ cấu vay nợ của các ngân hàng thương mại Thái Lan, vốn cho vay để đầu tư vào lĩnh vực BĐS chiếm 10 đến 35%. Bên cạnh đó, hình thức đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán cao. Tỷ lệ đầu tư nước ngoài trực tiếp của Thái Lan vào nhà xưởng, tư liệu sản xuất... rất thấp so với các nước trong khu vực.



Cái gì đến phải đến. Từ năm 1995, sự kết hợp của một số yếu tố khách quan như sự lên giá của đồng USSD, sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía Trung Quốc, sự sụt giảm nhu cầu thế giới về các sản phẩm bán dẫn, một sản phẩm xuất khẩu chính của Thái Lan, đưa nền kinh tế Thái Lan rơi vào khủng hoảng, thu nhập và tiêu dùng giảm mạnh. Về phía thị trường trong nước, thị trường BĐS một mặt bị thu hẹp và bị giới hạn bởi nhu cầu nội địa trong khi đầu tư tràn lan đã gây mất cân bằng trong quan hệ cung-cầu.



Theo thống kê, đến năm 1997, tỷ lệ không sử dụng BĐS ở Thái Lan tăng ở mức 15%. Giá BĐS rớt xuống, lĩnh vực đầu tư này không còn là lĩnh vực sinh lợi cho các chủ đầu tư như trước đây. Không giải quyết được đầu ra cho BĐS, các chủ đầu tư không trả được nợ vay ngân hàng. Hậu quả là lượng vốn vay trong ngân hàng ở dạng không có khả năng thu hồi vốn là rất lớn. Các ngân hàng theo đó không có khả năng thanh toán các khoản nợ vay từ nước ngoài. Hệ thống tài chính ngân hàng khủng hoảng.



Mặt khác, như đã nói ở trên, BĐS không đóng góp vào cán cân xuất nhập khẩu của đất nước trong khi bản thân lại thu hút rất nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài. Sự mất cân đối như vậy là cơ hội cho các nhà đầu cơ nước ngoài. Với sự nhìn nhận nền kinh tế Thái Lan đang giảm dần tốc độ phát triển, hệ thống ngân hàng khủng hoảng, cán cân thương mại bị suy giảm, các nhà đầu cơ đã tìm cách rút vốn khỏi Thái Lan thông qua việc bán chứng khoán hoặc rút tiền khỏi ngân hàng. Hệ thống ngân hàng vì thế lại càng lâm vào tình trạng khó khăn. Giờ đây, ngay cả những dự án sinh lợi cũng khó có thể tìm được nguồn vốn đầu tư. Nền kinh tế cứ thế theo vòng xoáy mà chìm sâu vào cơn lốc khủng hoảng.
Từ các phân tích trên có thể thấy thị trường BĐS Việt Nam tương lai sẽ phát triển theo 1 số đặc điểm sau:

-          Tính phân hóa các khu dân cư tăng dần lên: khoảng cách giàu nghèo tăng mạnh mẽ là động lực thúc đẩy quá trình phân chia các khu vực dân giàu, dân nghèo, khu vực các tầng lớp trí thức, tầng lớp lao động….

-          Bất động sản cho thuê tăng mạnh do Tốc độ đô thị hóa cao trong khi hạ tầng giao thông không phát triển kịp 

-          Phân hóa rõ rệt hơn giữa bđs kinh doanh và bđs nhà ở, cũng như các loại hình bđs khác…

-          Tăng trưởng của bđs du lịch, nghỉ dưỡng đặc biệt ở các thành phố du lịch.

-          Phân hóa mạnh giữa chung cư và chung cư cao cấp : ý thức của người sử dụng được nâng cao.

-          Ti lệ tài chính hóa, tiền tệ hóa bđs diễn ra phổ biến hơn, mạnh mẽ hơn : quá trình tích lũy để mua được nhà bằng vốn tự có sẽ rất khó khăn buộc người dân muốn mua nhà đều hầu hết phải sử dụng đòn bảy tài chính.

-          Diễn biến thị trường BĐS sẽ theo sát diễn biến của thị trường vốn, thị trường tài chính : chỉ khi 2 thị trường này tái cơ cấu hồi phục thì thị trường BĐS mới hồi phục.

-          Giá trị BĐS sẽ được nhận thức đầy đủ hơn: bao gồm giá trị đất và giá trị xây dựng, các lợi thế khác….

Nếu theo chu kì ngắn 7 năm thì thị trường BĐS Việt Nam sẽ bắt đầu hồi phục vào cuối 2013, nếu tính theo chu kì dài 10 năm thì thị trường BĐS Việt Nam sẽ hồi phục vào cuối 2015-2016. Dự đoán này cũng phù hợp với dự báo, năm 2015 dân số đô thị khoảng 35 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa 38% với nhu cầu đất xây dựng đô thị 335.000ha. Trong đó Hà nội có khoảng 7.7 triệu người, và Tp.Hồ Chí Minh vào khoảng 8,9 triệu người.còn vào năm 2020, dân số đô thị khoảng 44 triệu người, tỷ lệ đô thị hóa 45%.

Trong tương lai gần thì :

-          Phân khúc chung cư cao cấp sẽ mất thanh khoản, giá giảm nhiều. Phân khúc chung cư cấp thấp sẽ khó giảm dưới 12 -14 tr/m2. 

-          Đất liền kề , biệt thự ở các khu trung tâm sẽ không giảm, nhưng ở các khu đô thị mới, khu dân cư hạ tầng còn kém sẽ tiếp tục giảm.

-          Phân khúc biệt thự nghỉ dưỡng, bất động sản du lịch tiếp tục giảm nhưng tương lai sẽ trở nên nóng bỏng vào chu kì tăng giá bất động sản sau.( Hầu hết các dự án hiện tại đã chiếm các vị trí đắc địa )

theo : http://phongthuychungkhoan.blogspot.com/

Bài sau: xu hướng của thị trường BĐS Hà Nội , Đà Nẵng và Tp.Hồ Chí Minh